Các dị tật đường tiết niệu ở trẻ cần phải mổ

Dị tật và bệnh ở đường tiết niệu gặp tương đối phổ biến trong bệnh lý trẻ em. Bệnh gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu, suy và mất chức năng thận. Bệnh cần được phát hiện sớm để có chỉ định đúng về thời gian và cách chữa bệnh. Trước đây, những dị tật này thường chỉ được phát hiện khi có biến chứng, nhưng những năm gần đây dị tật này thường được phát hiện sớm sau đẻ thậm chí biết được trước khi trẻ sinh ra.

Trẻ thường được đưa tới phòng khám vì các lý do như khó đái, đái rỉ từng lúc hoặc suốt ngày, nước tiểu có thể rỉ ra ở đúng lỗ đái hoặc ở vị trí khác như ở âm đạo... Nước tiểu có thể đục hoặc màu hồng, có thể có khối u ở vùng dưới rốn hoặc mạng sườn...

Sau đây là một số dị tật hay gặp cần được chú ý:

- Hẹp lỗ đái: ở dị tật lỗ đái lệch thấp hay hẹp sau cắt bao qui đầu...

Biểu hiện: tia đái nhỏ, khó đái. Chữa bằng nong - mở rộng lỗ đái.

- Hẹp bao quy đầu:

Biểu hiện: khó đái, khi đái thấy bao quy đầu phồng, lộn bao quy đầu không được - không thấy được cả lỗ đái.

Điều trị bằng mổ, nong hoặc lộn. Trường hợp khi hẹp bao quy đầu không có vòng xơ, có thể lộn làm rộng dần bao quy đầu. Phương pháp này đơn giản, dễ làm, không làm trẻ đau, kết quả lâu dài. Hoặc dùng pine nhỏ nong, tách dính, làm sạch quy đầu - rãnh quy đầu. Tuy nhiên khi có vòng xơ ở bao quy đầu bị nghẹt bao quy đầu thì phải chỉ định mổ.

- Hẹp niệu đạo: Do nhiều nguyên nhân như chấn thương, viêm nhiễm, bẩm sinh.

Biểu hiện: đái khó, tia nhỏ, nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Chẩn đoán vị trí, mức độ hẹp và chiều dài niệu đạo hẹp bằng chụp niệu đạo. Tùy theo độ dài, mức độ hẹp mà chọn nong niệu đạo; cắt mở rộng chỗ hẹp bằng nội soi; hay cắt chỗ hẹp, nối lại niệu đạo hoặc tạo thêm một đoạn niệu đạo mới.

Hình ảnh chụp cắt lớp của hẹp phần nối bể thận - niệu quản gây giãn to đài bể thận.

- Túi thừa niệu đạo:

Thường ở trẻ trai, hiếm gặp ở trẻ gái. Bệnh thường biểu hiện từ ngay sau đẻ. Trẻ không đái thành tia, luôn đái rỉ. Có sốt do nhiễm khuẩn nước tiểu. Ở bìu thường có một khối khá tròn căng, ép vào thì ra nước tiểu ở lỗ đái. Chụp niệu đạo xác định vị trí và kích thước túi thừa. Điều trị bằng kháng sinh và mổ cắt túi thừa, khâu tạo lại niệu đạo.

- Van niệu đạo sau ở trẻ nam:

Biểu hiện: Trẻ khó đái hoặc đái rỉ liên tục, đái không hết nước tiểu nên bàng quang thường to. Chẩn đoán bệnh bằng chụp Xquang hoặc soi niệu đạo. Phương pháp điều trị là cắt van niệu đạo qua nội soi.

- Còn ống niệu rốn:

Biểu hiện: thấy nước trong rỉ ra qua rốn thường xuyên hoặc khi trẻ tiểu tiện, nước tiểu vừa ra qua lỗ đái ở đỉnh quy đầu lại vừa qua ở rốn. Chẩn đoán xác định bằng chụp bàng quang hoặc bơm chất màu xanh methylen vào niệu đạo. Bệnh thường tự khỏi với trẻ sơ sinh. Nếu tồn tại thì phẫu thuật cắt bỏ ống niệu rốn.

- Hẹp phần nối bàng quang - niệu quản hay hẹp phần niệu quản trong thành bàng quang: gây giãn niệu quản, đài bể thận.

Biểu hiện: nước tiểu đục, nhiễm khuẩn, có thể nắn thấy có khối u ở một bên mạng sườn. Chẩn đoán bằng siêu âm và chụp Xquang. Phương pháp điều trị là mổ cắt chỗ niệu quản hẹp. Trồng lại niệu quản vào bàng quang có van chống trào ngược.

- Hẹp lỗ niệu quản: Tạo ra túi sa niệu quản. Túi sa niệu quản có thể trong bàng quang hoặc chui ra ngoài lỗ đái (ở trẻ gái) gây bí đái. Chẩn đoán bằng siêu âm, chụp và soi bàng quang. Phẫu thuật mở túi sa qua nội soi hay cắt bỏ niệu quản - thận phụ có túi sa nếu thận phụ có chức năng kém và niệu quản phụ giãn to.

- Luồng trào ngược bàng quang - niệu quản: do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nước tiểu từ bàng quang luôn chảy ngược lên niệu quản gây giãn niệu quản và ứ đọng nước tiểu gây nhiễm khuẩn rồi suy thận. Chẩn đoán bằng Xquang, siêu âm. Nếu nhẹ (độ I và II) dùng kháng sinh, phẫu thuật khi bệnh nặng hơn (độ III, IV).

- Hẹp ở niệu quản:

Biểu hiện: đau bụng vùng mạng sườn, nước tiểu có thể đục, nắn bụng có thể thấy khối u (thận căng to). Chẩn đoán bằng siêu âm và chụp thận niệu quản có thuốc cản quang. Phẫu thuật mổ cắt van, có thể tạo hình niệu quản giãn phía trên.

- Hội chứng hẹp chỗ nối bể thận niệu quản:

Biểu hiện: đau bụng vùng mạng sườn, nước tiểu có thể đục, nắn có thể thấy khối u vùng mạng sườn (do thận căng to). Chẩn đoán bằng siêu âm và chụp thận có thuốc cản quang. Dị tật này tới nay thường được phát hiện trước khi trẻ ra đời. Phẫu thuật cắt bỏ chỗ niệu quản hẹp, tạo hình lại bể thận bị giãn, nối lại niệu quản với bể thận.

- Thận niệu quản đôi:

Biểu hiện: ở mỗi bên có hai đơn vị thận và hai niệu quản. Bệnh có thể ở một hoặc cả hai bên thận trái và phải. Cả hai niệu quản có thể đều đổ vào bàng quang hoặc có một niệu quản đổ lạc chỗ vào niệu đạo, cạnh lỗ đái, âm đạo... nên gây đái rỉ liên tục. Chẩn đoán bằng siêu âm và chụp thận - niệu quản có cản quang. Phẫu thuật nếu có đái rỉ hoặc có dấu hiệu nhiễm khuẩn tái phát...

Tóm lại, dị tật đường tiết niệu của trẻ em có rất nhiều loại và lại có thể kết hợp với nhau, với những dị tật hoặc bệnh ở các bộ phận khác. Khi bệnh nhi đến khám sớm, bệnh mới bắt đầu thì việc điều trị có kết quả tốt. Những tháng gần đây, chúng tôi đã khám và điều trị cho nhiều bệnh nhi có chẩn đoán từ trước sinh. Chúng tôi hy vọng và mong các bậc cha mẹ trẻ em nếu thấy con mình có dấu hiệu gì khác thường thì xin đưa tới khám để điều trị sớm.

PGS.TS.Trần Ngọc Bích

Chữa loét lưỡi

Nguyễn Văn Thanh (thanhnguyen@yahoo.com)

Viêm lưỡi là bệnh nguyên phát của lưỡi hoặc triệu chứng của một bệnh khác. Có nhiều nguyên nhân rất khác nhau gây viêm lưỡi: nhiễm khuẩn, nấm (thường gặp cơ địa suy giảm miễn dịch, dùng thuốc ức chế miễn dịch, kháng sinh kéo dài,...), chấn thương, chất kích thích (thuốc lá, rượu, chất cay, thức ăn uống nóng); mẫn cảm (với thuốc đánh răng, chất màu thực phẩm); bệnh hệ thống như thiếu vitamin, đặc biệt là vitamin nhóm B, thiếu vitamin PP, thiếu máu ác tính hoặc thiếu sắt; một số bệnh da phát triển toàn thân như lichen phẳng, ap-tơ, giang mai,... Biểu hiện bệnh không đi đôi với mức độ trầm trọng của bệnh. Lưỡi có thể đỏ, sưng to, cộm rộp, loét hoặc nhợt nhạt, láng bóng, trơn nhẵn, đau hoặc không. Có khi thấy đám lan, kẽ nứt, mảng đen có lông, bạch sản có lông...

Điều trị bệnh viêm lưỡi là điều trị theo nguyên nhân gây bệnh (kháng sinh nếu nhiễm khuẩn, kháng virut nếu do virut, kháng nấm nếu nghi do nấm, bổ sung vitamin nếu viêm lưỡi do thiếu vitamin, tránh các chất kích thích nếu viêm lưỡi do yếu tố kích thích,...). Song song với việc dùng thuốc, bạn nên ăn nhiều rau quả (nước ép rau quả nếu đau không ăn được như nước rau má, dấp cá), uống thêm các loại vitamin C, E, B, PP và kẽm. Ngoài ra bạn cần vệ sinh miệng kỹ lưỡng, làm sạch miệng bằng cách rơ lưỡi và niêm mạc miệng nhẹ nhàng với nước sạch hoặc mật ong trộn chung với một chút nghệ bột. Ngoài tác dụng làm sạch, những chất này còn giúp niêm mạc lưỡi và miệng mau phục hồi. Nếu có bội nhiễm nấm, tùy mức độ nặng nhẹ và có kèm rối loạn tiêu hóa hay không, mà bạn còn phải dùng thêm thuốc kháng nấm dạng uống hay bôi tại chỗ. Lời khuyên bạn nên đi khám tại bệnh viện da liễu hoặc các phòng khám da liễu để được kê đơn dùng thuốc phù hợp.

BS. Vũ Lan Anh

Biến chứng của bệnh polyp đại tràng

Polyp có thể xuất hiện tại nhiều vị trí trong đường tiêu hóa nhưng phổ biến nhất ở đại tràng. Nam giới và nữ giới đều có thể bị polyp đại tràng. Các polyp giống như một mụn thịt nhỏ phát triển từ lớp niêm mạc của ruột và nhô ra vào trong lòng ruột. Đôi khi chúng mọc trên “cuống” trông giống như cây nấm.

Tuy vậy, một số khối polyp cũng có thể phẳng. Một số có vài khối polyp nằm rải rác ở các phần khác nhau của đại tràng. Bản chất của polyp đại tràng không phải u, là một tổn thương có hình dạng giống như một khối u, có cuống hoặc không, tổn thương này do niêm mạc đại tràng và tổ chức dưới niêm mạc tăng sinh tạo thành.

Polyp đại tràng có thể lồi vào lòng đại tràng hoặc phẳng. Một người có thể bị nhiều polyp đại tràng và kích thước của chúng có khác nhau, có thể rất nhỏ bằng hạt đậu nhưng có trường hợp polyp đại tràng to hơn rất nhiều (chẳng hạn bằng quả bóng bàn). Đa số polyp đại tràng là lành tính nhưng một số có khả năng trở thành ác tính (ung thư). Vì vậy, một người càng có nhiều polyp đại tràng hoặc có một vài polyp nhưng kích thước càng lớn càng cần phải lưu tâm, cảnh giác, không được chủ quan, bởi vì, rất có thể trở thành ung thư bất cứ lúc nào.

 bệnh polyp đại tràngCó thể có đau bụng quặn do polyp có kích thước lớn

Nguyên nhân

Nguyên nhân của polyp đại tràng tuy chưa được xác định một cách chắc chắn nhưng có nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu về các nguyên nhân hình thành polyp đại tràng. Nguyên nhân được coi là chủ yếu dẫn tới hình thành bệnh polyp đại tràng là do đột biến gen làm phát triển tế bào không bình thường tạo thành polyp, thậm chí dẫn tới ung thư. Bình thường quá trình tăng sinh tế bào chịu sự kiểm soát của 2 nhóm gen, đó là nhóm gen gây ung thư và nhóm gen ức chế khối u. Khi có sự đột biến ở bất kỳ gen nào trong số hai loại gen này đều có thể làm cho tế bào tăng sinh quá mức tạo thành u hoặc dạng u (polyp). Ở đại tràng sự tăng sinh này sẽ tạo thành những khối dạng u và đáng lo ngại nhất một số dạng u đó (polyp) có thể trở thành ung thư (về lâu dài, cần có nhiều năm). Ngoài ra, có thể do chế độ ăn uống và sinh hoạt không hợp lý. Khi chế độ ăn nhiều chất béo, thịt có màu đỏ (thịt bò, trâu, thịt chó…) hoặc ăn ít rau, quả, chất xơ, hoặc lười, ít vận động có thể là những yếu tố nguy cơ gây nên polyp đại tràng. Những người nghiện thuốc lá, béo phì hoặc do bị viêm đại trực tràng mạn tính... có thể được xem như một trong những yếu tố nguy cơ gây polyp đại tràng. Bên cạnh đó, yếu tố di truyền cũng được đề cập tới ở những trường hợp cùng huyết thống (ông bà, bố mẹ, anh, chị em ruột thịt) bị polyp đại tràng dẫn đến polyp mang tính chất gia đình.

Biểu hiện của bệnh

Người bị polyp đại tràng thường có diễn biến âm thầm, nhất là loại polyp nhỏ, chỉ phát hiện khi tình cờ chụp đại tràng hoặc nội soi đại tràng vì một lý do khác. Vì vậy, hầu hết người bệnh có polyp nhỏ không có một biểu hiện gì khác thường. Tuy vậy, ở một số người bệnh có biểu hiện đi ngoài ra máu. Đây là triệu chứng hay gặp nhất. Có thể thấy máu tươi thành vệt hay loang ra trên khuôn phân hoặc thấy máu ở giấy vệ sinh khi đi ngoài hoặc có trường hợp phân lẫn nhày với máu màu nâu, đen hoặc nhờ nhờ như máu cá (giống phân của người bị lỵ trực khuẩn). Đặc biệt là khi phân mềm hoặc nát nhưng có máu kèm theo. Hầu hết người bệnh bị chảy máu ở mức độ nhẹ và vừa, trường hợp chảy máu nặng gây mất máu nghiêm trọng xảy ra ít hơn. Có thể có đau bụng quặn do polyp có kích thước lớn, kích thích làm tăng nhu động ruột và gây đau, những trường hợp này rất dễ nhầm với bệnh kiết lỵ. Một số trường hợp đau bụng kèm theo buồn nôn, nôn, bí trung tiện hoặc bí đại tiện rất dễ nhầm với tắc ruột hoặc bán tắc.

Biến chứng của bệnh polyp đại tràng

Để chẩn đoán polyp đại tràng cần chụp đại tràng có chuẩn bị (thụt tháo và thuốc cản quang), tốt nhất là nội soi đại tràng. Nội soi là phương pháp tốt nhất để kiểm tra đại tràng vì nó giúp quan sát được toàn bộ lớp niêm mạc của đại tràng và có thể sinh thiết để xét nghiệm tế bào phát hiện tế bào lạ (tế bào ác tính). Ngoài ra có thể chụp cộng hưởng từ.

Có nguy hiểm không?

Trong thực tế có hai loại polyp đại tràng phổ biến nhất, đó là polyp tăng sản và polyp u tuyến. Các polyp tăng sản không có nguy cơ bị ung thư. Các polyp u tuyến được cho là tiền thân cho hầu hết bệnh ung thư đại tràng, mặc dù cơ bản các u tuyến không phải bao giờ cũng trở thành ung thư, nhưng các khối polyp có kích thước lớn có nhiều khả năng trở thành ung thư và một số những polyp với kích thước rất lớn (hơn 2cm) có thể có những vùng nhỏ bị ung thư hóa.,vì vậy, người bệnh không được chủ quan với căn bệnh này.

Nguyên tắc điều trị như thế nào?

Trong trường hợp có nhiều polyp hoặc polyp có kích thước lớn hoặc đã gây biến chứng (đau bụng, chảy máu, nôn, buồn nôn…) cần được được hội chẩn sớm để chỉ định phẫu thuật cắt bỏ, nhằm ngăn ngừa xuất hiện ung thư. Phẫu thuật cắt bỏ polyp đại tràng, hiện nay có nhiều kỹ thuật khác nhau, nếu khối u kích thước nhỏ có thể được cắt qua nội soi đại tràng. Trong các trường hợp khối u lớn có thể mổ nội soi hay mổ mở ổ bụng nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho người bệnh. Sau khi đã loại bỏ polyp có thể sử dụng một số thuốc nhằm hạn chế polyp tái phát.

Lời khuyên của thầy thuốc Để phòng bệnh, cần có chế độ ăn uống và lối sống hợp lý, nên hạn chế ăn nhiều chất béo, mỡ động vật (lòng động vật), các loại thịt đỏ. Cần tăng cường ăn rau, củ, quả và chất xơ. Hạn chế đến mức tối đa uống rượu, bia. Cần vận động cơ thể đều đặn, thường xuyên, đúng bài bản là điều rất bổ ích, nhằm làm cho khí huyết lưu thông, mọi cơ quan đều hoạt động đều đặn, trong đó có bộ máy tiêu hóa.

TS.BS. BÙI MAI HƯƠNG

8 thói quen giúp bạn sống lâu hơn

Ngoài ra, cuộc sống là một món quà, rõ ràng chúng ta muốn sống càng lâu càng tốt để tận hưởng những thành quả của cuộc sống bên người thân.

Sức khỏe là yếu tố chính giúp bạn sống lâu hơn. Nếu chúng ta mắc bệnh, cơ hội sống sẽ giảm đi, đặc biệt là mắc các bệnh hiểm nghèo như ung thư. Không những thế, thường xuyên bị cảm cúm cũng làm suy giảm hệ miễn dịch và tuổi thọ. Dưới đây là một số lời khuyên giúp bạn luôn khỏe mạnh và sống lâu hơn:

thói quen giúp bạn sống lâu

Tập thể dục hàng ngày là yếu tố quan trong giúp bạn sống lâu hơn. Tập thể dục giúp tăng cường hệ miễn dịch và ngăn ngừa các bệnh gây tử vong.

Giảm thịt và ăn thực phẩm có nguồn gốc thực vật giúp tăng tuổi thọ và giữ cho tim luôn khỏe mạnh.

Một lời khuyên khác để sống lâu là ngừng ăn trước khi no hoàn toàn. Thói quen này giữ cân nặng của bạn luôn ổn đinh và ngăn ngừa bệnh nhiễm trùng.

Uống 2 cốc rượu vang mỗi ngày cũng làm tăng tuổi thọ. Rượu vang chứa các chất chống ôxy hóa ngăn ngừa thoái hóa tế bào.

“Chìa khóa” giúp bạn sống lâu là loại bỏ stress ra khỏi cuộc sống. Stress là nguyên nhân dẫn đến rất nhiều căn bệnh chết người.

Nhiều chuyên gia cho rằng những người có mục đích nhất định trong cuộc sống có xu hướng sống lâu hơn do họ luôn nỗ lưc và có ý thức giữ gìn sức khỏe để đạt được mục tiêu của mình.

Không ăn đồ ăn giòn là chìa khóa giúp bạn sống lâu đặc biệt là sau 30 tuổi. Các chất béo có hại trong đồ ăn giòn sẽ “rút ngắn” tuổi thọ của bạn

Theo nghiên cứu những người có nhiều bạn thân cũng thường sống lâu hơn. Giao tiếp xã hội giúp bạn giảm bớt stress trong cuộc sống.

BS.Tuyết Mai

(theo Univadis/Boldsky)

Giời leo

Trong những năm gần đây, số người mắc căn bệnh này gia tăng.

Bệnh có thể xuất hiện ở tất cả vùng da bên ngoài cơ thể như bụng, hai bên sườn, cổ, vai, mặt, lưng… nhưng giời leo ở phần hố mắt là nguy hiểm nhất và khó điều trị nhất.

Bệnh giời leo do nhiễm viút herpes Zoster, chứ không phải do con giời nào bò ngang qua cơ thể chúng ta như lâu nay người dân vẫn nghĩ và bệnh thường xảy ra vào mùa mưa, thời tiết lạnh, độ ẩm cao. Bệnh còn do cơ thể mệt mỏi, stress kéo dài sức đề kháng yếu...

Biểu hiện

Người bệnh có thể bị sốt, nóng rát, sưng vùng da chỗ bị bệnh, nhất là khi trời nắng nóng thì cảm giác càng khó chịu hơn. Sốt nhẹ khoảng 37 - 3805, người mệt mỏi, khó chịu, căng thẳng.

Giời leo có thể phát bệnh ở bất cứ vùng da nào của da trên cơ thể, nó kéo dài 10 - 15 ngày và gặp ở mọi lứa tuổi.

Tại vùng da bị bệnh, đầu tiên là cảm giác ngứa, đau rát, nhức nhối, sưng đỏ, sau đó nhanh chóng mọc nhiều nốt kế tiếp dạng phỏng nước, lúc đầu có màu đục nhạt sau chuyển sang màu đỏ nhạt rồi sau đó nhanh chóng bị phát tán ra nhiều phía và bên trong các nốt giời mọng nước, sưng to dần, đồng thời vẫn ngứa ngáy khó chịu nơi vùng da bị bệnh. Trường hợp nốt giời leo bị vỡ thì khả năng lây truyền bệnh càng nhanh hơn.

Giời leo Giời leo Giời leo kéo dài 10-15 nghày và gặp ở mọi lứa tuổi

Sau khi các dấu hiệu của zona chấm dứt, người bệnh luôn cảm thấy đau nhức nhiều tại vùng da bị bệnh, nhất là tại các sẹo cho nên hình thành gọi là chứng đau sau zona, với đặc điểm là không giảm đau bằng các loại thuốc giảm đau thông thường. Do đó, để giảm đau thường phải phong bế bằng thuốc tê quanh các sẹo hoặc dùng thuốc tê xoa tại chỗ để làm dịu cơn đau.

Zona không tái phát, chỉ bị một lần mắc trong đời

Thông thường, bệnh zona không tái phát, chỉ bị một lần mắc trong đời và theo các nghiên cứu, có một tỉ lệ rất nhỏ xảy ra ung thư nội tạng ở những người cao tuổi bị zona.

Những sai lầm trong điều trị

Đã từ lâu, trong dân gian cho rằng chữa bệnh giời leo bằng cách đắp đậu xanh, gạo nếp hoặc các lá thuốc nam lên tổn thương da hoặc một số nơi còn tìm đến thầy cúng để cúng bái vẽ bùa phép, khoán bằng mực Tàu vòng xung quanh chặn không cho lan ra xung quanh. Tuy nhiên làm như vậy không chữa được bệnh mà còn tăng nguy cơ nhiễm trùng, gây loét, kích ứng da... Bởi vì, trong tuần lễ đầu, khi bệnh đang phát triển, dẫu cho có nhai gạo nếp đậu xanh hay bất cứ thứ gì lên vùng da bị bệnh thì không những bệnh không giảm mà còn làm cho chỗ bị bệnh bị bội nhiễm từ nước bọt của người nhai. Tuy nhiên, có trường hợp sau khi đắp khoảng một tuần lễ bệnh sẽ khỏi nên càng làm cho mọi người tin tưởng vào cách trị này. Đó là do có sự trùng hợp ngẫu nhiên, bởi vì sau 7 - 10 ngày, bệnh không điều trị cũng tự lui, vì đây là bệnh do virút. Do đó, đây là những cách điều trị vô cùng sai lầm, cho nên khi bị zona thì nên đến gặp bác sĩ để được thăm khám và hướng dẫn điều trị đúng cách. Đặc biệt, trong trường hợp zona xuất hiện ở gần mắt thì nguy cơ ăn vào giác mạc là rất lớn và gây nguy hiểm đến mắt. Bên cạnh đó, người bệnh cần có những biện pháp hỗ trợ tại nhà bằng những cách như giữ cho khu vực sang thương được sạch sẽ bằng xà bông nhẹ và nước, mặc quần áo rộng để tránh bị thương thêm khi quần áo tiếp xúc với sang thương, tránh những tiếp xúc da - chạm - da với những người chưa từng bị bệnh.

Cách phòng ngừa

Để căn bệnh này không làm ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt, công việc cần phải thực hiện các biện pháp phòng tránh.

Nếu đã từng mắc bệnh giời leo hoặc thủy đậu, thì nên quan tâm phòng tránh bệnh giời leo trong mùa mưa ẩm thấm, khi sức đề kháng suy yếu.

Tiêm ngừa bệnh giời leo bằng vắcxin zostavas. Đây là loại vắcxin được một số nước áp dụng cho những người trên 60 tuổi, bởi bệnh giời leo chủ yếu xuất hiện ở người lớn tuổi.

Mặt khác, do bệnh giời leo và bệnh thủy đậu do cùng một virút gây ra nên có thể phòng tránh bằng cách phòng ngừa bệnh thủy đậu:

Tiêm vắcxin phòng bệnh thủy đậu.

Không dùng chung đồ dùng cá nhân, dụng cụ ăn uống với bệnh nhân thủy đậu.

Không tiếp xúc trực tiếp với các chất dịch cơ thể của người bệnh thủy đậu.

Khử trùng các vật dụng trong gia đình đã từng dùng chung khi phát hiện có nguồn bệnh để hạn chế tối đa nguy cơ lây nhiễm.

Bên cạnh đó, để ngăn chặn bệnh giời leo cũng như nhiều căn bệnh khác, nên xây dựng lối sống lành mạnh, vui tươi, thường xuyên vận động, suy nghĩ lạc quan, tránh căng thẳng kéo dài và bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng. Xây dựng hệ thống miễn dịch khỏe mạnh chính là phương án hữu hiệu để ngăn chặn sự tỉnh giấc của những virút gây thủy đậu trước đây còn sót lại.

BS. HỒ VĂN CƯNG

Nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ em từ sơ sinh đến 9 tuổi

Ngày nay, khi điều kiện kinh tế các gia đình cùng với kiến thức nuôi dưỡng con cái ngày càng khấm khá lên, nhiều bà mẹ rất muốn nuôi con theo khoa học. Để có được những đứa con lớn nhanh, khỏe mạnh và thông minh, lớn lên trở thành những công dân có ích cho xã hội, các bà mẹ cần nắm vững một số lời khuyên hay có thể nói đó là những nguyên tắc cơ bản nhất, là kim chỉ nam cho việc nuôi dưỡng con cái:

“Hãy nuôi con bằng sữa mẹ và cho con ăn bổ sung hợp lý”.

“Hãy nuôi con theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của nó”.

1. Vậy thế nào là “nuôi con bằng sữa mẹ và cho con ăn bổ sung hợp lý”?

Ở đây có hai vế: thứ nhất là “nuôi con bằng sữa mẹ hợp lý” và thứ hai là “cho con ăn bổ sung hợp lý”.

Chúng ta sẽ thảo luận về vế thứ nhất “nuôi con bằng sữa mẹ hợp lý” trước. Cần phải nhất trí tuyệt đối rằng, sữa mẹ là thức ăn tốt nhất đối với trẻ trong năm đầu. Sữa mẹ cung cấp đủ các chất dinh dưỡng, phù hợp nhất với yêu cầu phát triển của trẻ trong 6 tháng đầu. Sữa mẹ còn có kháng thể giúp trẻ tăng sức đề kháng chống lại bệnh tật. Nuôi con bằng sữa mẹ thuận tiện, ít tốn kém, bảo đảm an toàn. Nuôi con bằng sữa mẹ còn tăng gắn bó tình cảm mẹ con, và có lợi cho sức khoẻ người mẹ, giảm nguy cơ mắc ung thư vú và ung thư buồng trứng. Vì vậy, cần cho trẻ sơ sinh bú mẹ sớm, ngay trong vòng một giờ đầu sau khi sinh. Trong 6 tháng đầu tức là từ lúc sinh ra đến tròn 180 ngày chỉ cho trẻ bú hoàn toàn sữa mẹ, nghĩa là ngoài sữa mẹ không cho trẻ ăn/ uống gì thêm (trừ các loại thuốc ki cần thiết). Từ sau tháng thứ 6 bắt đầu cho ăn bổ sung hay ăn sam, nhưng vẫn tiếp tục cho con bú cùng với ăn bổ sung và cho bú kéo dài đến 18-24 tháng. Đó là chi tiết lời khuyên trong vế thứ nhất “nuôi con bằng sữa mẹ hợp lý”.

 	Ảnh minh hoạ

Ảnh minh hoạ

Vế thứ hai “cho con ăn bổ sung hợp lý” gồm những gì? Đó là hãy bắt đầu cho con ăn bổ sung sau 6 tháng; cho con ăn dần từ ít đến nhiều, từ lỏng đến đặc; thức ăn phải đa dạng (thực hiện tô màu đĩa bột) để có chất lượng và cân đối về dinh dưỡng đảm bảo nhu cầu theo lứa tuổi. Khi quấy bột nên thêm dầu mỡ để có thêm năng lượng. Cho con ăn nhiều bữa (4-6 bữa/ngày tùy theo lứa tuổi). Không kiêng khem quá mức. Sau 24 tháng tuổi, cho con ăn chung ngày 3 bữa chính với gia đình, nhưng phải có khẩu phần ưu tiên riêng và phải có thêm 2 bữa phụ. Cần tạo cho trẻ thói quen ăn hỗn hợp tất cả các loại thực phẩm và ăn nhạt. Không cho trẻ ăn bánh kẹo, uống nước ngọt trước bữa ăn. Khi con ốm/ bệnh, tuyệt đối không được ngừng cho bú cho ăn mà cần cho con tiếp tục bú/ ăn ít một nhưng nhiều bữa và bổ sung dịch/ nước. Đó là những nội dung chi tiết của “cho con ăn bổ sung hợp lý”.

2. “Hãy nuôi con theo đúng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của nó”

Chúng ta đều biết “trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại”. Do các cơ quan, tổ chức cơ thể chưa hoàn thiện, trẻ em đang tuổi lớn và phát triển nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng của trẻ rất cao. Cho nên cần quan tâm chăm sóc và nuôi dưỡng, đảm bảo cho trẻ được ăn nhiều năng lượng và nhiều các chất xây dựng cơ thể như chất đạm, chất khoáng và vi chất dinh dưỡng. Ăn uống tốt giúp cho trẻ lớn, phát triển và hoạt động bình thường cho tới lúc trưởng thành. Các thói quen ăn uống được hình thành rất sớm nên cần phải giáo dục sớm cho trẻ các thói quen về vệ sinh ăn uống. Đối với trẻ ốm phải cố gắng dỗ cho trẻ ăn, mặc dù nó không thấy ngon miệng và khả năng tiêu hoá hấp thu giảm; vì thế cần chế biến cho trẻ ăn đa dạng các món cháo, súp, và nước quả ... những món ăn mà chúng vẫn ưa thích. Chú ý sau khi ốm, trẻ thường ăn trả bữa, cần phải cho trẻ ăn nhiều hơn bình thường, để trẻ hồi phục nhanh và đảm bảo đủ nhu cầu dinh dưỡng.

Sau đây là tóm tắt nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho trẻ đến 9 tuổi để các bà mẹ tham khảo áp dụng nuôi con hàng ngày.

2.1. Nhu cầu khuyến nghị về năng lượng và các chất sinh năng lượng

Mới đây, các tác giả Mỹ khuyến cáo rằng trong bất kể một loại thức ăn thay thế sữa mẹ (Fomulas) nào (trong trường hợp cần thiết phải sử dụng cho trẻ) cũng phải đảm bảo 40% năng lượng từ chất béo, tối đa có thể tới 57%.

2. Nhu cầu khuyến nghị về các chất khoáng

3. Nhu cầu khuyến nghị về một số vi chất dinh dưỡng quan trọng cho tăng trưởng và phát triển

PGS. TS. Phạm Văn Hoan

Bệnh nhi bị hội chứng Cushing hiếm gặp

Bệnh nhi mới 11 tuổi (Buôn Mê Thuột), mắc bệnh béo phì hơn 3 năm qua, và được nhiều bác sĩ điều trị theo góc độ béo phì. Tuy nhiên, bệnh ngày càng nặng. Tại BV. Nguyễn Tri Phương, Tp.hcm, các bác sĩ phát hiện bé bị cao huyết áp, kèm theo nhiều triệu chứng khác như béo phì, rậm lông, nên đã cho bé xét nghiệm chuyên sâu về nội tiết. Kết quả, bé mắc phải hội chứng Cushing do tổn thương cùng lúc cả hai tuyến thượng thận.

Ngày 19/9, theo ThS.BS. Đào Trung Hiếu, Phó Giám đốc BV. Nhi Đồng 1, do BV. Nguyễn Tri Phương chuyên về điều trị người lớn, nên sau khi hội chẩn với BV. Nhi Đồng 1, bệnh nhi này đã được chuyển về BV. Nhi Đồng 1. Bé nhập viện trong tình trạng béo phì, rậm lông, rạn da.

Bệnh nhi bị hội chứng Cushing hiếm gặpCác bác sĩ thăm khám cho bệnh nhi bị hội chứng Cushing

Hội chứng Cushing trên bệnh nhi 11 tuổi

BS. Hiếu cho biết: “Đây là một ca bệnh vô cùng hiếm gặp, theo y văn ghi nhận thế giới có khoảng hơn 20 ca như vậy. Hội chứng Cushing là một hội chứng khá thường gặp ở BV. Nhi Đồng 1, nhưng ca này lại có những biểu hiện của hội chứng khá đặc biệt trên một bệnh nhi còn quá nhỏ tuổi khi vừa mắc bệnh, 8 tuổi”.

Nói thêm về bệnh sử của bệnh nhi này, theo BS.CKI. Trần Thị Hương, Phó khoa Thận - Nội tiết (BV. Nhi Đồng 1), cách đây 3 năm, bé lên cân rất nhiều, cha mẹ mới đưa trẻ đi khám bác sĩ nhi, sau khi các xét nghiệm bình thường, bác sĩ chẩn đoán và điều trị béo phì. Nhưng tình trạng béo phì diễn tiến ngày càng nặng, nên gia đình tiếp tục đi một vài nơi nữa cho đến gặp bác sĩ chuyên khoa nội tiết và vào BV. Nguyễn Tri Phương.

“Bé gái 11 tuổi có tình trạng tăng cân bất thường trong một thời gian khá dài, đã điều trị qua nhiều nơi. Trong một lần tình cờ, bé than mệt. Chính vì chữ “mệt” nên người nhà cảm thấy lo lắng rất nhiều nên đã đưa con đến bệnh viện. Tại đây, bệnh nhi đã được thăm khám, và đo huyết áp. Huyết áp vào thời điểm đó tăng cao đến nổi các bác sĩ phải dùng thuốc để kiểm soát huyết áp.

Béo phì kèm với cao huyết áp bất thường, các bác sĩ đã phải làm các xét nghiệm chuyên sâu hơn và phát hiện bé có bất thường tuyến thượng thận cả hai bên. Sau khi hội chẩn với BV. Nguyễn Tri Phương, các bác sĩ của cả hai bên nhận thấy bé nên chuyển về điều trị tại một bệnh viện nhi sẽ thích hợp hơn”, BS. Hiếu cho biết.

Theo BS. Hiếu, sau hàng loạt xét nghiệm, bệnh nhi bị tăng sản tuyến thượng thận hai bên. Qua CT-Scan, chúng tôi còn phát hiện rất nhiều các nốt kích thước không lớn, nằm rải cả hai bên tuyến thượng thận. Chính các nốt này làm tăng tiết nội tiết tố cortisol dẫn đến hội chứng Cushing: béo phì, rậm lông, loãng xương, cao huyết áp thậm chí là rối loạn tâm thần.

Đây là một bệnh lý khó, xử lý như thế nào, cắt bỏ hai bên hay tiếp tục điều trị bằng thuốc khống chế. Cuối cùng, các bác sĩ chọn con đường can thiệp phẫu thuật bằng nội soi để tránh đường mổ quá lớn. Tuy nhiên, phẫu thuật nội soi trên một em bé béo phì, cao huyết áp do hội chứng Cushing là một ca cực kỳ khó khăn.

Cắt bỏ cả hai tuyến thượng thận: một phẫu thuật nội soi không dễ dàng

BS.CKI. Hà Văn Lượng - Phó khoa Phẫu thuật Gây mê Hồi sức (BV. Nhi Đồng 1) giải thích, mỗi người có hai tuyến thượng thận. Mỗi tuyến thượng thận gồm hai phần vỏ và tủy. Phần vỏ tiết ra ba loại nội tiết tố, gồm: 1 nội tiết tố điều hòa điện giải, 1 nội tiết tố chuyển hóa đường - mỡ - đạm, nội tiết tố sinh dục (chủ yếu là sinh dục nam). Phần tủy chủ yếu tiết ra nội tiết tố điều chỉnh nhịp tim và huyết áp, đặc biệt trong trường hợp stress.

Bệnh nhi bị hội chứng Cushing hiếm gặp

“Chính vì vậy, tuyến thượng thận bị tổn thương, bên cạnh những biểu hiện bên ngoài như vừa mô tả phía trên, bệnh nhi còn bị những bất thường nội tiết tố. Tăng sinh tuyến thượng thận biểu hiện bằng béo phì của hội chứng Cushing, nhưng chủ yếu ở phần mặt (mặt tròn như mặt trăng), ngực, bụng, lưng. Còn những phần cơ thể khác như tay, chân có thể bị gầy đi. Bệnh nhi này có những biểu hiện rõ của tổn thương nội tiết, trong đó bệnh nhân cao huyết áp.

“Đặc biệt, bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật nhất là cắt bỏ hai tuyến thượng thận, bắt đầu sẽ bị rối loạn về nhịp tim, huyết áp. Nên chúng tôi phải phối hợp rất nhiều khoa như Thận - Nội tiết, Tim mạch để ổn định huyết áp và nội tiết trước và trong khi mổ, chuẩn bị thuốc cao huyết áp hay corticoid. Sau khi cắt tuyến thượng thận, bệnh nhân lại gặp nguy cơ tụt huyết áp, suy thận cấp. Hơn thế nữa, phẫu thuật nội soi trên bệnh nhân 11 tuổi 50kg, rất mập, nên khi bơm CO2 vào ổ bụng căng ra để dễ can thiệp phẫu thuật, diễn biến sẽ vô cùng phức tạp, hô hấp có thể gặp vấn đề, một phần ảnh hưởng đến tim mạch …”, BS. Lượng cho biết.

Khi bệnh nhân vào phòng mổ, huyết áp tăng vọt lên 180mmHg gần 200mmHg. Các bác sĩ phải cho bệnh nhân uống corticoid và thuốc hạ áp trước mổ, điều chỉnh huyết động… Hơn thế nữa, em bé này có tích tụ mỡ bất thường ở vùng bụng, thành bụng rất dày, sự tiếp cận vô cùng khó khăn cho cả hai tuyến thượng thận nằm vừa cao vừa sâu trong cơ thể.

Hiện nay, bệnh nhi đã ổn định, ăn uống bình thường. Do mức độ phẫu thuật ít xâm lấn, và giảm đau tối thiểu sau 3 ngày, bệnh nhi đã có thể ngồi lên, vận động nhẹ nhàng. Đặc biệt, em bé sau mổ, tình trạng huyết áp đã được kiểm soát tốt bằng thuốc uống. BS. Hương cho biết, cắt bỏ hai tuyến thượng thận sẽ giúp cơ thể không còn tăng sinh các nội tiết tố, dẫn đến rối loạn và hội chứng Cushing, nhưng cũng đưa đến nguy cơ sau mổ. Bệnh nhân phải theo dõi suốt cuộc đời, và bổ sung các nội tiết tố, đồng thời nếu bệnh nhân bị rối loạn điện giải, sẽ phải sử dụng các thuốc để hạ kali máu.

AN QUÝ

6 loại bệnh thường gặp khi chuyển mùa hè

Bệnh đường hô hấp, cảm cúm, sốt xuất huyết, đau mắt đỏ... là những bệnh phổ biến khi thời tiết chuyển mùa hè sang thu. Cha mẹ cần biết cách phòng tránh để bảo vệ bản thân và con em mình khỏi nguy cơ mắc bệnh.

1. Bệnh đường hô hấp: (Viêm đường hô hấp trên cấp; Viêm phổi)

Khi có biểu hiện như sốt cao trên 3 ngày, khó thở, thở nhanh hoặc thở rút lõm lồng ngực hoặc thấy trẻ mệt nhiều hơn mọi ngày cần đưa trẻ đến bác sĩ khám và tư vấn.

Phòng bệnh đường hô hấp vào mùa thu: giữ ấm cơ thể, đeo khẩu trang khi ra đường, tránh mặc đồ quá dày mồ hôi ra nhiều dẫn đến nhiễm lạnh. Vệ sinh cá nhân. Rửa tay bằng xà phòng.

2. Cảm cúm

Biểu hiện của bệnh thường là nghẹt mũi, chảy nước mũi, sốt, đau đầu, chóng mặt, ho, đau họng, chán ăn... cần đưa bệnh nhân tới bác sĩ để được khám, tư vấn, điều trị hiệu quả, hạn chế những biến chứng và tái phát.

6 loại bệnh thường gặp khi chuyển mùa hè - thu

3. Sốt xuất huyết

Lưu ý không dùng thuốc hạ sốt loại có chứa Aspirin hoặc ibuprofen nếu nghi ngờ bé bị sốt xuất huyết vì dễ làm tăng nguy cơ chảy máu. Chỉ dùng thuốc hạ sốt loại Paracetamol rồi nhanh chóng chuyển ngay tới BV kịp thời.

4. Bệnh tay chân miệng

Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, tổn thương niêm mạc miệng và da chủ yếu ở dạng phỏng nước thường thấy ở lòng bàn tay bàn chân, gối, mông...

Biến chứng nguy hiểm của bệnh như viêm não, màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Phòng bệnh cần cách ly nguồn lây, rửa tay bằng xà phòng nhiều lần trong ngày, vệ sinh đồ chơi (nếu có thể nên rửa đồ chơi bằng xà phòng)...

5. Đau mắt đỏ

Bệnh có biểu hiện đỏ một mắt trước, sau đó lan sang mắt kia, người bệnh cảm thấy khó chịu, cộm như có cát trong mắt, nhiều dử, mi mắt sưng nề, mọng, đau nhức, chảy nước mắt...

Để phòng bệnh đau mắt đỏ cần chú ý vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng và nước sạch. Dùng riêng khăn, gối, chậu rửa mặt. Khăn mặt, khăn tắm cần giặt sạch bằng xà phòng, phơi nắng để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh. Nhỏ nước muối 0,9% hàng ngày.

6 loại bệnh thường gặp khi chuyển mùa hè - thu

Hạn chế tiếp xúc với người bị đau mắt. Không tự ý mua thuốc nhỏ mắt hoặc dùng thuốc của người khác khi bị bệnh. Không tự đắp lá dâu, lá trầu... vào mắt vì có thể gây nhiễm trùng nặng thêm.

Chú ý các thuốc có corticoide có thể làm dịu nhanh nhưng có nguy cơ gây biến chứng viêm giác mạc, vì thế, khi chưa có chỉ định của bác sĩ tuyệt đối không được dùng.

6. Bệnh dạ dày

Nhiều nghiên cứu cho thấy vào mùa thu, những người có vấn đề về dạ dày sẽ tăng nguy cơ và tái phát triệu chứng do sự kích thích của không khí lạnh, lượng hitamin trong máu tăng lên, dịch chua trong dạ dày bài tiết nhiều, đường tiêu hóa bị co bóp mạnh làm giảm sức đề kháng và tính thích ứng với khí hậu của cơ thể.

Bên cạnh đó do stress đặc biệt là việc học tập quá tải, căng thẳng hoặc ép trẻ ăn nhiều thường làm trẻ đau bụng. Lúc đầu đau bụng chức năng, lâu dần có thể gây loét...

Phòng bệnh, người đau dạ dày cần chú ý mặc ấm, rèn luyện sức khỏe để giảm bớt khả năng phát bệnh; chú ý ăn uống khoa học mỗi bữa, không nên ăn quá no và nên chia làm nhiều bữa, tránh học tập quá tải, không xem Tivi, chơi điện tử nhiều...

PV

(Theo tài liệu BV Bạch Mai)

Sử dụng dầu khuynh diệp có tốt cho hệ hô hấp của bé không?

Vậy tôi xin hỏi, mẹ chồng tôi nói vậy có đúng không thưa?

(Thái Thị Thanh Vân - TP.HCM)

Qua trình bày trong thư của bạn, thì dầu khuynh diệp hay còn gọi là dầu gió, được hai nhà hóa học Dennis ConsidenvàJohn White chiết xuất thành công, theo hướng tinh dầu khuynh diệp hiện đại. Sau đó, nhà hóa học người Pháp là F.S. Cloezđã tinh chế được chất Eucalyptol dùng để chế tinh dầu trong chữa bệnh, thành phần chủ yếu được chiết xuất từ các loại tinh dầu thảo dược từ thiên nhiên như khuynh diệp, hồi, quế, long não… thường dùng trong phòng, trị cảm cúm, sổ mũi, nghẹt mũi, ho, đau bụng, nhức mỏi, nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, côn trùng đốt…

Sử dụng dầu khuynh diệp có tốt cho hệ hô hấp của bé không?

Với em bé, dầu thường được dùng để tắm cho trẻ sơ sinh, bằng cách cho một lượng dầu nhỏ vào chậu nước ấm trước khi tắm cho bé, biện pháp này theo dân gian sẽ giúp bé ấm áp và không bị cảm lạnh, hay dùng xông hơi trị và phòng chống cúm hoặc cảm lạnh bằng cách nhỏ vài giọt dầu lên khăn tay, sau đó đặt bên cạnh gối khi ngủ, cách thức trên giúp thông mũi, giảm nghẹt mũi và có giấc ngủ ngon hơn.

Mẹ chồng bạn cho rằng không nên cho bé sử dụng dầu khuynh diệp có chứa Camphor là có cơ sở khoa học. Trẻ sơ sinh do có cấu tạo bộ máy hô chưa hoàn chỉnh, chưa thích nghi được các chất kích từ các loại dầu, trong đó có dầu khuynh dịp đặc biệt là chất Camphor, vì Camphor được các nhà y học sử dụng trong kích thích tim mạch.

BS.CKI.TRẦN QUỐC LONG

Phát hiện sớm trẻ thiếu men G6PD

Thiếu men G6PD ở trẻ sơ sinh là một bệnh di truyền, do nhiễm sắc thể X bị dị dạng không còn khả năng tổng hợp được men G6PD. Trẻ bị thiếu men này thường có biểu hiện vàng da sơ sinh kéo dài và thiếu máu huyết tán, có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.

Biểu hiện của trẻ thiếu men G6PD

Thiếu máu huyết tán: Khi trẻ thiếu men G6PD, màng tế bào hồng cầu sẽ kém bền, dễ bị vỡ trước các tác nhân gây stress ôxy hoá, hậu quả tế bào hồng cầu bị vỡ đưa đến hiện tượng huyết tán. Nếu huyết tán kéo dài sẽ đưa đến thiếu máu.

Phát hiện sớm trẻ thiếu men G6PD

Lấy máu gót chân để sàng lọc bệnh lý ở trẻ sơ sinh tại BVĐK khu vực Bồng Sơn - Bình Định. ảnh: Mỹ Hạ

Vàng da sơ sinh kéo dài: Trẻ thiếu men G6PD có thể bị vàng da từ ngày thứ 3 - 8 sau khi sinh; nếu nặng sẽ kéo dài hơn, có thể gây biến chứng thần kinh, chậm phát triển tâm thần, vận động...Nếu như trẻ không bị biến chứng vàng da nặng, qua giai đoạn sơ sinh, trẻ vẫn sống bình thường như những trẻ khác cho đến khi gặp yếu tố thuận lợi mới bùng phát, như khi trẻ uống một số loại thuốc có tính ôxy hóa, ăn thức ăn họ đậu có chứa phức hợp glycoside hoặc mắc các bệnh nhiễm trùng như viêm gan siêu vi, viêm phổi,...

Cách chăm sóc trẻ thiếu men G6PD

Thiếu men G6PD là bệnh di truyền, không thể chữa khỏi. Tuy nhiên có thể phòng ngừa được hậu quả tán huyết do bệnh thiếu men G6PD gây ra, trẻ có thể sống và phát triển bình thường. Nếu phát hiện trẻ bị thiếu men G6PD, cha mẹ cần có chế độ chăm sóc đặc biệt đối với trẻ. Bệnh nhi cần tránh những tình trạng có thể ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, nhất là những bệnh do nhiễm khuẩn, nhiễm virut; Kiêng một số loại thức ăn, thuốc uống có nguy cơ gây tiêu hủy men này trong cơ thể theo tư vấn của bác sĩ để tránh những đợt tan máu do vỡ hồng cầu. Khi trẻ bị ốm cần điều trị phải thông báo cho bác sĩ biết tình trạng thiếu men G6PD của trẻ để bác sĩ có chỉ định điều trị phù hợp. Không tự ý mua thuốc chữa bệnh cho trẻ.

Xét nghiệm cho trẻ ngay sau sinh

Tất cả trẻ sơ sinh sau khi sinh nên lấy máu gót chân để tầm soát các bệnh lý ở giai đoạn sơ sinh, trong đó có thiếu men G6PD. Trẻ sẽ được lấy máu ở gót chân thấm vào giấy lấy mẫu máu để làm xét nghiệm sàng lọc bệnh thiếu men G6PD. Nếu phát hiện trẻ thiếu men G6PD, gia đình trẻ sẽ được tư vấn theo dõi và điều trị lâu dài. Xét nghiệm lấy máu gót chân còn giúp những người cùng bị thiếu men G6PD không kết hôn với nhau để tránh sinh con mắc bệnh này.

Bác sĩ Nguyễn Thị Hoa


Viêm gan siêu vi A có thể gây dịch và tử vong do suy gan cấp!

Trong 5 năm qua, San Diego ghi nhận trung bình mỗi năm chỉ 28 ca viêm gan do nhiễm siêu vi viêm gan A (HAV).

Viêm gan siêu vi A do thức ăn hay nước bị ô nhiễm

TS. Wilma Wooten, giám đốc Trung tâm Dịch vụ Y tế Công cộng thuộc Cơ quan Y tế và Dịch vụ Con người của quận San Diego, nói: “Đây là một sự bùng phát của viêm gan siêu vi A với mức độ nghiêm trọng chưa từng thấy. Hầu hết các trường hợp bị viêm gan siêu vi A đều xảy ra trong cộng đồng những người vô gia cư, sử dụng ma túy bất hợp pháp hoặc kết hợp cả hai”.

Viêm gan siêu vi A thường lây lan khi người ta ăn phải thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm; và HAV có thể lây truyền từ người sang người thông qua “đường phân - miệng”.

“Về cơ bản, nếu một cá nhân bị HAV và không rửa tay sau khi sử dụng nhà vệ sinh, và sau đó HVA gây viêm gan có thể lây lan hoặc làm ô nhiễm môi trường: tay nắm cửa, máy ATM hoặc bất cứ thứ gì họ chạm vào”, TS Wooten nói. Người khác chạm vào những vật dụng đó, rồi không rửa tay trước khi ăn, hút thuốc hoặc sờ vào khuôn mặt cũng có thể bị nhiễm bệnh.

Viêm gan siêu vi A có thể gây dịch và tử vong do suy gan cấp!Siêu vi viêm gan A

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC), các triệu chứng viêm gan siêu vi A bao gồm vàng da và mắt, sốt, mệt mỏi, ăn mất ngon, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, nước tiểu sẫm màu, và phân bạc màu. Triệu chứng thường xuất hiện trong một số ngày và kéo dài chưa đầy hai tháng. Tuy nhiên, một số người có thể bị bệnh suốt 6 tháng. Viêm gan siêu vi A đôi khi có thể gây suy gan và thậm chí tử vong. Mặc dù không có phương pháp điều trị đặc biệt, bác sĩ khuyên bệnh nhân bị viêm gan siêu vi A nên nghỉ ngơi, dinh dưỡng và uống nhiều nước. Hầu hết mọi người đều hồi phục hoàn toàn và không bị các tổn thương gan kéo dài.

Viêm gan siêu vi A thường dẫn đến suy gan cấp

Theo Tổ chức Y tế Thế giới - WHO, không giống như viêm gan siêu vi B và C, viêm gan siêu vi A không gây ra bệnh gan mạn tính và hiếm khi gây tử vong, nhưng nó có thể gây ra các triệu chứng suy nhược và suy gan cấp, thường dẫn đến tử vong.

Theo ThS.BS. Nguyễn Hiền Minh, phòng khám chuyên khoa Gan (BV. Nguyễn Tri Phương, TP.HCM), viêm gan siêu vi A không thường xuyên gây ra dịch và có xu hướng bùng phát theo chu kỳ. HAV là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của nhiễm trùng do vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm không được đảm bảo.

Thế giới đã từng ghi nhận dịch bệnh viêm gan này liên quan đến thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm ở Thượng Hải năm 1988, ảnh hưởng tới khoảng 300.000 người. Ở Đông Nam Á, viêm gan siêu vi A thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên. Một nghiên cứu tiến hành ở Indonesia năm 2014 cho thấy, có những vùng tỉ lệ nhiễm HAV ở trẻ em dưới 4 tuổi lên đến 90 - 100%. Việt Nam cũng là nước có mức độ lưu hành rộng rãi căn bệnh này. Một nghiên cứu thực hiện tại tỉnh An Giang cho biết rằng tỉ lệ nhiễm HAV ở trẻ em là 97%. Tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, HAV là nguyên nhân của khoảng 10 - 15% số trường hợp viêm gan cấp.

Ở các nước đang phát triển có điều kiện kém, hầu hết trẻ em (90%) đã bị nhiễm HAV trước 10 tuổi. Trẻ em bị nhiễm như vậy sẽ không gặp bất kỳ triệu chứng đáng chú ý nào; và trẻ lớn hơn và người trưởng thành nói chung được miễn dịch. Tuy nhiên, ở các quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi, và các vùng có điều kiện vệ sinh tốt hơn, trẻ em thường tránh lây nhiễm HAV khi còn thơ ấu, và sẽ không được miễn dịch khi trưởng thành. Những nhóm tuổi lớn hơn thường nhạy cảm hơn với khả năng mắc bệnh viêm gan siêu vi A và có thể dẫn đến sự bùng phát dịch bệnh.

“Khi nhiễm HAV, sinh lý bệnh tổn thương gan biểu hiện ở sự phá hủy tế bào nhu mô gan và ứ tắc dịch mật. Trên lâm sàng, thời kỳ này tương ứng với thời kỳ toàn phát của bệnh. Thông thường tình trạng cơ thể người bệnh ban đầu khi nhiễm HAV không đặc hiệu nên thường dễ nhầm lẫn với bệnh cảm cúm hay các bệnh lý nhiễm trùng khác như sốt, ho, nhức đầu, đau mỏi cơ. Sau nhiễm HAV 5 - 7 ngày, bệnh nhân hết sốt, dấu hiệu vàng mắt, vàng da xuất hiện tăng dần, nước tiểu sậm màu và thường diễn tiến kéo dài 2 - 4 tuần. Bệnh viêm gan A cấp tính thường tự khỏi nhưng có khoảng 2% số trường hợp diễn biến nặng, có thể dẫn đến suy gan, hôn mê gan, làm cho người bệnh tử vong”, BS. Hiền Minh giải thích.

Cải thiện vệ sinh, an toàn thực phẩm và tiêm ngừa vắcxin là cách hiệu quả nhất để chống lại viêm gan siêu vi A. Vì thậm chí có một số bệnh nhân không hề có biểu hiện lâm sàng viêm gan siêu vi A cấp tính ra bên ngoài nhưng vẫn là nguồn lây nhiễm bệnh ra cộng đồng. Sự lây lan của viêm gan siêu vi A có thể được giảm thiểu bằng cách: cung cấp đầy đủ nước uống an toàn; xử lý nước thải trong cộng đồng; và thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân như rửa tay thường xuyên với nước sạch.

Gần 100% trường hợp sẽ có kháng thể bảo vệ đối với HAV trong vòng 1 tháng sau khi tiêm một liều vắcxin. Thậm chí, một liều vắcxin duy nhất trong vòng 2 tuần sau khi tiếp xúc với HAV cũng có tác dụng bảo vệ. Tuy nhiên, các nhà sản xuất khuyến cáo nên dùng 2 liều vắcxin để đảm bảo hiệu quả bảo vệ lâu dài khoảng 5 - 8 năm sau khi chủng ngừa.

PHƯƠNG KHÁNH

Dấu hiệu của bệnh cúm

Thời gian gần đây tôi xem tivi thấy nói nhiều đến bệnh cúm nên rất lo lắng không biết làm thế nào bệnh cúm để đề phòng. Xin bác sĩ cho biết dấu hiệu bệnh cúm?

Nguyễn Hoàng Yến(Hải Phòng)

Bệnh cúm do virut cúm gây ra, lây lan nhanh, dễ bùng phát thành dịch. Một người bị cúm thường có các dấu hiệu sau: bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng rét run, sốt 39-40oC từ ngày đầu, kéo dài 3-5 ngày. Người mệt mỏi, đau nhức toàn thân, đau đầu, da khô nóng, chảy nước mắt, sổ mũi, ngạt mũi, đau rát họng, có khi ho tức ngực, khạc đờm hoặc chảy máu cam, miệng đắng, buồn nôn, táo bón.

Bệnh cúm do virut cúm gây ra.
Những ngày sau thân nhiệt giảm dần, các triệu chứng toàn thân cũng giảm dần trong 5-7 ngày. Bệnh cúm có biến chứng nặng nhất là viêm phổi với các triệu chứng: khó thở, thở nhanh, tím tái, khạc đờm, nhanh chóng dẫn đến suy hô hấp, suy tuần hoàn, tử vong nếu không được điều trị. Phòng bệnh bằng cách: ăn uống đầy đủ, ngủ đủ từ 7-8 giờ mỗi ngày, không thức khuya, giữ ấm khi thời tiết lạnh, thường xuyên tập thể dục vừa sức.

Tránh uống rượu bia, không hút thuốc lá vì làm giảm sức đề kháng của cơ thể. Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với ngoại cảnh. Đeo khẩu trang khi ra đường hay đến nơi công cộng. Khi phát hiện bệnh cúm, cần đi khám ở bệnh viện để được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời.

BS. Đinh Lan Anh

Ai dễ bị ung thư tuyến giáp?

Ung thư tuyến giáp là loại bệnh lý ung thư tiến triển thầm lặng. Tỉ lệ ung thư giáp gia tăng tại các vùng bướu cổ địa phương. Tại Việt Nam, tỉ lệ ung thư giáp chiếm 2% tổng số trường hợp ung thư tại Hà Nội và tần suất khoảng 3 trường hợp/ triệu dân/năm. Bệnh gặp ở người trẻ hơn là người lớn tuổi, trong đó 2/3 trường hợp dưới 55 tuổi và 25% gặp ở trẻ em.

Yếu tố nguy cơ

Có hai nguy cơ thường gặp đối với ung thư biểu mô giáp là:

- Tiền sử chiếu xạ ở vùng đầu - cổ để điều trị u thanh quản, tuyến hạnh nhân quá phát, hạch cổ, u vòm họng v.v...; Tần suất ung thư giáp tăng rõ rệt sau nhiễm phóng xạ.

- Tiền sử gia đình có thân nhân bị ung thư giáp, nhất là ung thư tủy giáp trạng. Khoảng 6% người bệnh bị ung thư giáp dạng nhú có yếu tố gia đình và loại ung thư này cũng thường xảy ra ở người bệnh mắc bệnh polip gia đình, bệnh đa nội tiết, hội chứng Pendred...

Ai dễ bị bệnh

Ung thư giáp hay gặp ở phụ nữ, tuổi từ 40 - 60, tuy nhiên cũng có thể gặp ở mọi lứa tuổi tùy thể bệnh. Bệnh thường xảy ra trên người bệnh có bướu giáp nhân đơn độc, tiền sử bướu giáp (bướu giáp địa phương), giảm tiết hormon giáp có thể làm bộc phát ung thư giáp, đặc biệt sau khi phẫu thuật cắt tuyến giáp toàn phần...

Dấu hiệu nhận biết

Trên lâm sàng ung thư tuyến giáp biểu hiện có u tuyến giáp, hạch cổ và di căn.

U tuyến giáp

Nhân giáp: Một nhân đơn độc ở tuyến giáp, xạ hình cho thấy nhân lạnh( nhân không bắt i-ốt), giảm tập trung. Nhân to nhanh, mật độ cứng, không đau, phần còn lại của nhu mô giáp không bị phì đại, không có dấu hiệu rối loạn chức năng giáp và liệt dây thần kinh quặt ngược.

Thoái hóa ác tính của bướu giáp: Thường là các bướu giáp nhiều nhân, nhất là các bướu giáp đa nhân không đồng nhất. Các dấu hiệu ác tính là: bướu to nhanh, mật độ trở nên cứng như gỗ, nhất là khi có dấu hiệu chèn ép hoặc có hạch cổ.

Ung thư toàn khối: Phần lớn tương ứng với ung thư không biệt hóa, có thể xảy ra trên một bướu giáp có đã lâu, nhất là ở người lớn tuổi. Diễn tiến thường qua hai giai đoạn kế tiếp: Giai đoạn trong vỏ bọc: tuyến giáp tăng khối lượng nhanh ở một thùy hoặc toàn bộ tuyến, mật độ trở nên cứng; Giai đoạn ngoài vỏ bọc: làm thành một khối u lớn, cứng, không đồng nhất, không di động. Có thể có dấu hiệu chèn ép, có hạch cổ ở một hoặc cả hai bên.

Hạch cổ

Hạch cổ có khi là triệu chứng phát hiện, có thể xuất hiện đồng thời với một nhân giáp sờ thấy mà trước đó không để ý và thường cùng ở một bên với nhân giáp. Hạch lớn nhưng không đau. Tuy nhiên hạch cổ là biểu hiện đầu tiên, đơn độc của ung thư giáp, đặc biệt là ở trẻ em và người trẻ tuổi. Các hạch, hoặc chỉ có một hạch, có thể ở các vị trí vùng động-tĩnh mạch cảnh, cơ thanh quản (cơ nhị thân, cơ trâm) mặt trước, hoặc cơ trên đòn. Khi sờ nắn kỹ tuyến giáp vẫn không có gì bất thường”.

Di căn

Hay gặp nhất là xương và phổi. Di căn xương với tính chất tiêu hủy gây ra đau xương hoặc gãy xương tự nhiên; ở cột sống gây gãy lún đốt sống, có khi ép tủy. Di căn phổi thường âm thầm, kiểu hạt kê nhiều hơn là dạng nốt lớn hoặc nhỏ. Di căn não, gan, buồng trứng ít gặp hơn, hầu như chỉ gặp ở loại ung thư biểu mô tủy giáp trạng.

Chẩn đoán bằng cách nào?

Hiện nay để chẩn đoán bệnh tuyến giáp cũng như ung thư giáp y học dùng siêu âm và chọc hút tế bào bằng kim nhỏ. Đây là phương pháp an toàn không độc hại, độ nhạy cao.

Siêu âm giáp giúp đánh giá chính xác kích thước, vị trí của nhân giáp và phát hiện các nhân giáp không sờ thấy trên lâm sàng... Các dấu hiệu của một nhân giáp ác tính nghi ngờ trên siêu âm bao gồm tăng sinh mạch máu ở trung tâm, u giáp giảm hồi âm, bờ không đều, vôi hoá bên trong. Ngoài ra siêu âm để hướng dẫn chọc hút tế bào nhân giáp bằng kim nhỏ.

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ(FNA) là phương tiện được lựa chọn hàng đầu để đánh giá nhân giáp. Phương tiện này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trên 90%. Chọc hút tại u giáp hoặc tại hạch qua hướng dẫn của siêu âm nếu khối u nhỏ.

Các phương pháp khác như: Chụp cắt lớp điện toán (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI) tuyến giáp là phương tiện để đánh giá sự lan rộng ung thư tuyến giáp vào cấu trúc lân cận và di căn hạch. Ngoài ra, xạ hình tuyến giáp, định lượng hoóc môn giáp cũng có thể được chỉ định để chẩn đoán.

Nguyên tắc điều trị

Khi kết quả siêu âm và chọc hút nghi ngờ ác tính thì các khuyến cáo của các hiệp hội về tuyến giáp trên thế giới khuyên bệnh nhân nên phẫu thuật. Sau phẫu thuật bác sĩ sẽ gửi nhân giáp đi làm giải phẫu bệnh lại. Có hai tình huống có thể gặp: Nếu nhân giáp lành tính, thì tiếp tục điều trị nội khoa sau mổ để bù hormon giáp. Nếu nhân giáp ác tính thì sẽ có kế hoạch điều trị xạ trị bổ sung trong một số trường hợp và uống bù hormon giáp suốt đời.

Lời khuyên của thầy thuốcUng thư giáp thường xảy ra trên người bệnh có bướu giáp nhân đơn độc, có tiền sử bướu giáp địa phương, giảm tiết hormon giáp, đặc biệt sau khi phẫu thuật cắt tuyến giáp toàn phần. Vì vậy những người này cần định kỳ thăm khám 3-6 tháng/lần để được phát hiện sớm và điều trị kịp thời nếu bị ung thư. Rất may ung thư giáp là bệnh có thể điều trị khỏi hoàn toàn .

BS. Vũ Lan Anh